09:09 Thứ ba, 12/12/2017 Chào mừng bạn đến với Trang thông tin điện tử huyện Hương Khê tỉnh Hà Tĩnh

HỆ THỐNG MENU

Hoc tap tam guong ĐĐ HCM_Trai
Nguyễn Du

LIÊN KẾT WEBSITE

Sàn giao dịch điện tử tỉnh Hà Tĩnh
Cong chinh phu
Cong thong tin dien tu tinh
Dieu hanh tac nghiep
Nonng thon moi
Bao ha Tinh
Nga ba dong loc

Thăm dò ý kiến

Bạn quan tâm tới thông tin nào nhất trên Trang thông tin điện tử huyện Hương Khê huongkhe.gov.vn

Thông tin giới thiệu về huyện

Tin tức - Sự kiện

Văn bản quản lý nhà nước

Thủ tục hành chính

Địa chỉ liên hệ

Hỏi - Đáp

Các số liệu thống kê

Các thông tin khác

LƯỢT NGƯỜI TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 33


Hôm nayHôm nay : 1737

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 20274

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 5081068

Trang nhất » Tin Tức » Giáo dục - Đào tạo

BIENDAOQUEHUONG

Tăng cường tiếng việt cho học sinh dân tộc qua việc xây dựng thói quen đọc sách

Thứ hai - 30/10/2017 03:20
I. Khái quát chung 1. Đặc điểm tình hình: Hà Tĩnh nằm ở Trung Trung bộ, phía Bắc giáp Nghệ An, phía Nam giáp Quảng Bình, Đông giáp biển, Tây giáp nước bạn Lào, khí hậu khắc nghiệt; kinh tế chủ yếu là nông, lâm nghiệp, sản phẩm công nghiệp còn ít.
Tăng cường tiếng việt cho học sinh dân tộc qua việc xây dựng thói quen đọc sách

Tăng cường tiếng việt cho học sinh dân tộc qua việc xây dựng thói quen đọc sách

-         Là tỉnh có truyền thống hiếu học; được các cấp ủy Đảng, chính quyền quan
tâm về công tác giáo dục. Người dân tộc thiểu số không nhiều phần lớn đã định cư lâu năm, có bố hoặc mẹ là người dân tộc, cơ bản sống cùng chung với người Việt, phát triển các mặt đồng đều như người Việt.
-         Tuy nhiên, một số huyện miền núi có nhiều khó khăn về địa hình, kinh tế có
đồng bào Dân tộc thiểu số ít người sinh sống, đặc biệt ở huyện Hương Khê có dân tộc Chứt là dân tộc ít thuộc diện chậm phát triển so với các dân tộc khác.
-         Hương Khê có 4 xã có đường biên giới chung với nước bạn Lào. Toàn huyện có 126 học sinh dân tộc thiểu số (DTTS) (126/8501 HS); có 4 lớp ghép/310 lớp. Dân tộc Chứt sống tại tại bản Rào Tre -xã Hương Liên và Bản Giàng - xã Hương Vĩnh. Tại bản Giàng Hương Vĩnh học sinh đã nói tiếng Việt khá tốt khi vào học. Ở bản Rào tre, cả bản chỉ có 44 hộ và 146 nhân khẩu, người Chứt ở đây có tiếng nói riêng; không có chữ viết. Nhiều cặp vợ chồng hôn nhân cận huyết thống nên sức khỏe yếu; tuổi thọ trung bình thấp (dưới 50 tuổi); theo UBDT QH thì đồng bào ở đây đang chậm hơn các dân tộc khác khoảng 40 năm. Hiện tại có 26 em đang học tiểu học; năng lực học tập còn hạn chế; ghi nhớ chậm hơn và mau quên; vốn tiếng Việt của các em và đồng bào cũng hạn chế; các em ngại giao tiếp với người lạ, ít tham gia và thiếu tự tin trong các hoạt động tập thể.                                                       
          Do vậy, việc tăng cường tiếng Việt cho HSDT Chứt tại bản Rào Tre (Hương Liên) là một điều rất cần thiết, cấp bách trong hoạt động dạy học của nhà trường và ngành giáo dục huyện.
II. Các giải pháp thực hiện để TCTV cho HSDT Chứt.
          Để TCTV cho học sinh và bà con dân tộc Chứt, ngành GDDT đã chỉ đạo,
thực hiện các giải pháp sau:
- Thông qua việc dạy ngữ âm trong tiếng Việt, các trò chơi học tập theo CGD (như Nu na Nu nống” “Chèo thuyền”, “Đi chợ”…;
- Kể các câu chuyện ngắn (cổ tích, ngụ ngôn…) trong học tập;
- Sắp xếp, trang trí thư viện phù hợp thị hiếu HSDT, tạo cảnh quan, thư viện
xanh gần lớp học của HSDT; Kết nối thư viện các trường để trao đổi truyện tạo điều kiện cho học sinh được đọc nhiều quyển truyện.
- Tổ chức đọc sách và các hoạt động thư viện; Xây dưng thư viện góc lớp (tủ sách, báo tại lớp).
- Tăng cường các hoạt động tập thể;
- Tổ chức các hoạt động ngoại khóa, giao lưu với các tổ chức, đoàn thể;
- Chú trọng hệ thống loa phát thanh tại bản của bà con dân tộc;
- Tổ chức ăn bán trú cho HS dân tộc;
- Điều động giáo viên có hiểu biết về dân tộc, nhiệt tình, được bà con tin vào dạy cho học sinh dân tộc. (Điều động 1 GVG tỉnh, đã dạy ở trường DTNT, hiểu, gần gữi với bà con DT).
III. Giải pháp: Tăng cường tiếng Việt (TCTV) cho học sinh DTTS thông qua việc Hình thành thói quen đọc sách.
Ở đây chỉ đi vào những nội dung của giải pháp “TCTV cho HSDTTS thông qua việc Hình thành thói quen đọc sách”, cụ thể:
1. Đưa các câu chuyện ngắn có sách trong sách truyện ở trong thư viện kể cho HSDT trong các tiết học.
- Chọn một số câu chuyện có nội dung gần gũi, hợp với sở thích các em xen lẫn vào tiết học (chuyện cổ tích, truyện tranh về thiếu nhi dũng cảm người dân tộc…)
- Qua các câu chuyện và giới thiệu để kích thích, tạo hứng thú. Làm cho các em mong muốn đến thư viện tìm đọc, khám phá. Thói quen đọc sách giúp các em được tăng cường tiếng Việt qua hoạt động đọc (tập đọc, rèn đọc…)
          2. Sắp xếp bố trí thư viện phù hợp thị hiếu, sở thích của học sinh dân tộc; mua, vận động đóng góp sách, báo, tạp chí cho thư viện.
- Nắm được thị hiếu của học sinh dân tộc Chứt rất thích màu sắc và nghe nhạc. Nhà trường trang trí, sắp xếp lại phòng thư viện với nhiều màu sắc nổi bật; sơn lại bàn ghế nhiều màu sắc để thu hút các em.
- Lắp thêm màn chiếu; mua sắm đĩa nhạc với các bài hát thiếu nhi các em thích để phục vụ cho học sinh tạo hướng thú cho các em khi đến thư viện.
- Mua sắm, bổ sung nhiều loại sách, truyện có nội dung ngắn gọn, dễ hiểu, mẫu mã đẹp, hình ảnh ngộ nghĩnh, bắt mắt, ưu tiên các loại truyện cổ tích, thần thoại, truyện tranh lịch sử, thế giới loài vật, những câu chuyện kì bí, phiêu lưu mạo hiểm… các loại sách mua cũng được chú ý đến kích cỡ, màu sắc của kênh hình, kênh chữ phù hợp.
3. Xây dựng thư viện xanh, thư viện thân thiện; thư viện góc lớp cho lớp học của học sinh dân tộc:
          Trường đã đầu tư kinh phí làm thư viện xanh, gần lớp học của HSDT, tạo điều kiện dễ tiếp cận nhất cho các em. Thành lập tổ cộng tác thư viện học sinh, giáo viên. Tổ cộng tác thư viện tham gia hỗ trợ cán bộ thư viện sắp xếp, bố trí sách báo cho các em đọc; hỗ trợ, ưu tiên HSDT trong mượn trả sách, bảo quản sách ở thư viện thân thiện, thư viện góc cây, tủ sách góc lớp. Trường đầu tư ngân sách, xin các tổ chức, đặc biệt là bộ đội biên phòng, đoàn thanh niên để mua sách, tăng các đầu báo, tạp chí.                                        
4. Xây dựng thời khóa biểu tiết học tại thư viện
- Sử dụng buổi 2 và tiết đọc tại thư viện. Xây dựng thời khóa biểu có tiết đọc tại thư viện do giáo viên hướng dẫn và định hướng để giúp học sinh được tăng cường tiếng Việt em qua đọc truyện và hoạt động tại thư viện.
- Tiết đọc tại thư viện cho học sinh, được tổ chức dưới nhiều hình thức như:
+ Giáo viên đọc to nghe chung: Giáo viên chọn câu chuyện phù hợp đọc to cho cả lớp nghe; đọc diễn cảm và giới thiệu hình ảnh minh họa trong sách để thu hút lôi cuốn học sinh. Lựa chọn một vài tình tiết, nhân vật  để tái hiện cho học sinh nhằm gây sự thích thú, chú ý, giúp các em và nhớ được nhân vật, câu chuyện.
+ Giáo viên và học sinh cùng đọc: Giáo viên lựa chọn câu chuyện, sách (khổ lớn) để cùng đọc với cả lớp cùng một chuyện.
          + Học sinh đọc nhóm đôi: giáo viên hướng dẫn nhóm học sinh cùng thống nhất lựa chọn sách mình thích để cả 2 cùng đọc.
+ Đọc cá nhân, tự do: Các em tự tìm truyện yêu thích cho cá nhân mình để đọc trong tiết thư viện và thời gian khác. Đối với những học sinh đầu cấp ngoài việc sử dụng các sách truyện có cỡ chữ to, CBTV và GV còn phóng to các câu chuyện ngắn chiếu lên màn hình để học sinh cùng đọc. Những hoạt động này giúp cho các em lớp 1 rèn đọc tiếng Việt rất tốt. Đặc biệt là học sinh còn yếu đọc.
Sau tiết đọc giáo viên tổ chức cho các em thực hiện các hoạt động, như:
+ Sắm vai các nhân vật, đọc lời thoại (đơn giản);
+ Kể lại câu chuyện (các câu chuyện ngắn);
+ Mức độ cao hơn đó là thi đọc diễn cảm; sắm vai, viết, vẽ về nhân vật, tình tiết thể hiện trong truyện; Hát theo băng và các hình thức hát biểu diễn của cá nhân, Nhóm. Hoạt động này tạo cho các em thích thú, vui tươi, hòa đồng, đồng thời rèn luyện nói tiếng Việt cho các em thông qua lời thoại, lời dẫn của các nhân vật trong truyện, thông qua các hoạt động kết nối; thông qua việc viết về nhân vật, tình tiết câu chuyện để các em được rèn luyện về ngôn ngữ viết... Thư viện góc lớp đã tại điều kiện cho các em có thể đọc thuận tiện trong khoảng thời gian ngắn nhất. Không gia của thư viện xanh, thư viện góc cây cho các em thoải mái trong hoạt động đọc. Việc tổng kết số lượt đọc sách (có tuyên dương) hàng tuần đã tạo thi đua trong đọc sách, báo ở các em.
5. Tổ chức các hoạt động tại thư viện.
-          Giới thiệu sách;
-          Trưng bày sách;
-          Kể chuyện theo sách;
-          Kể chuyện theo chủ đề;
-          Thi đọc diễn cảm;
-          Đọc thuộc lòng thơ theo chủ đề.
6. Kết quả đạt được
- Học sinh: Qua việc tổ chức học tại thư viện đã hình thành thói quen đọc cho học sinh. Thói quen đọc sách và hoạt động thư viện đã góp phần rất lớn trong việc tăng cường tiếng Việt cho học sinh học sinh DTTS. Các em phát âm chuẩn, nói rõ ít bị nói ngọng, “lớ” giọng, chữ viết đúng và đẹp hơn; tự tin trong giao tiếp, thuận lợi trong học tập các môn và tham gia nhiệt tình các hoạt động tập thể.
- Giáo viên và CB thư viện: Có thói quen và kỹ năng để tổ chức các HĐ thư viện; rèn luyện về đọc diễn cảm; tìm hiểu được nhiều loại truyện ở thư viện; giảm được việc rèn đọc cho học sinh hàng ngày trên lớp học; giảm bớt việc thường xuyên động viên, thúc dục học sinh tham gia các hoạt động tập thể… thể hiện được sự gần gũi, yêu thương…
- Phụ huynh: Qua việc học sinh mượn sách, báo tạp chí về nhà đã giúp các bậc phụ huynh biết thêm về những câu chuyện, tin tức được các em đọc qua sách, báo… có cơ hội để nghe, nói và gần gũi với tiếng Việt.
- Đối với cộng đồng, xã hội: Thấy được sự cần thiết và tác dụng của thư viện trong việc TCTV cho học sinh, bà con dân tộc Chứt. Có tác động tốt hơn về thu hút, chia sẻ với nhà trường và tham gia hỗ trợ tài liệu, sách cho thư viện.
IV. Kết luận, kiến nghị
1. Kết luận: Để TCTV thông qua việc hình thành thói quen đọc sách có hiệu quả cần nắm được sở thích của HSDT, tổ chức đồng bộ các hoạt động hứng thú làm cho HS có mong muốn đọc sách. Xây dựng thư viện thân thiện, tạo thuận lợi cho học sinh trong mượn –đọc-trả; xây dựng sự phong phú trong các thể loại sách, báo, tạp chí. Không ngừng đẩy mạnh các hoạt động khuyến đọc như động viên, khen thưởng cho HS có số lượt đọc nhiều hàng tuần, tháng; chú ý đến các bài giới thiệu hay về sách … giáo viên, CBTV nhiệt tình, trăn trở, đam mê với việc hình thành thói quen, đam mê đọc cho học sinh.
2. Kiến nghị:
- Bộ, Sở GDĐT: Có văn bản hướng dẫn điều chỉnh thời lượng (7 tiết/ngày) để có thời gian dành cho hoạt động tại thư viện. Tập huấn, bồi dưỡng về nâng cao nghiệp vụ, năng lực tổ chức các hoạt động cho CBTV.
- Chính quyền địa phương: tạo nguồn kinh phí để có phòng thư viện đủ không gian (theo quy mô trường); kinh phí mua sắm trang thiết bị, sách phong phú, báo, tạp chí cần thiết cho thư viện; kinh phí khen thưởng ….

Tác giả bài viết: Lê Hữu Tân

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn